Chào mừng các bạn đến với - Góc Thương Mại - do các cựu thành viên trường Quốc Gia Thương Mại tại Việt Nam thực hiện
Hiển thị các bài đăng có nhãn tho. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tho. Hiển thị tất cả bài đăng

14 tháng 6, 2013

TTH với lưu ca




Văn sĩ dùng ngòi bút để tả thôn nữ. Họa sĩ dùng cọ và màu. Thôn nữ trong văn chương Việt Nam hay trong tranh là đề tài bình dân dễ đọc. Thôn nữ Hậu Giang, một hình ảnh quen thuộc gắn liền vào đồng lúa phì nhiêu, yên bình. Năm nay tại ARLINGTON TX, tôi cách xa Hậu Giang nửa vòng trái đất. Hậu Giang và đề tài THÔN NỮ tuy xa cách trong không gian và thời gian, 30 năm hơn kể từ lúc mới gặp nhau lần đầu, vẫn còn in rõ nét trong tiềm thức, trong ký ức tôi. Hậu Giang trong tôi thu hẹp vào tỉnh Bạc Liêu. Thôn nữ trong tôi có tên Hạnh mà không phải một cô gái quê tổng quát nào đó như chúng ta thường thấy trên bìa các tạp chí thời xưa. Thôn nữ tên H. là một bóng dáng thân thương nhứt suốt đời tôi.

Chiều nay trong công viên im vắng gần nhà, im vắng rất cần cho cảm hứng như chiếc thuyền con, mong manh cần cho dòng sông hiền hòa trong bức tranh thủy mạc. Tác giả hồi tưởng lại con sông dịu êm trước nhà em như sông HƯƠNG nên thơ nơi cố đô HUẾ, nhớ đến hàng cau, mái rạ, màu mạ non xanh mướt, mùi mạ thơm lừng theo từng cơn gió thoảng ...nơi em sinh sống và trưởng thành. Anh nhìn thấy trong em có sự bình dị của con gái miền sông HẬU, sự hiền hòa của dòng sông và đượm nét thôn nữ trong tranh. Khi bình minh ló dạng nơi quê em, không khí tươi mát, anh nhìn say sưa nét đẹp của mấy tàu cau tươi cong vút, lung lay nhẹ theo từng cơn gió, liên tưởng đến hàng mi đen tuyền của thôn nữ và cây mận hồng đào trĩu nặng trái sau vườn nhà em với màu hồng thắm tươi, thơm ngon, ngọt ngào, mời mọc như đôi môi không son của em... Sương sớm lưu-ly tụ trên lá mạ như những hạt kim cương quý giá. Mây quê em xanh như màu áo thiên thanh của cô nữ sinh trung-học Bạc-liêu.

Ngoài sông : một chiếc đò ngang chèo tay. Nơi bến đò có quán trà quế bình dân với vài chiếc băng cây, mấy cái ghế xiêu vẹo nhưng chứa đầy tình cảm. Chẳng có loại trà nào đắt giá, chỉ có trà quế nóng, kẹo, bánh... với giá bình dân. Hình ảnh của thôn nữ với đôi mát đen dịu hiền, suối tóc thơ ngây, tánh nết đơn sơ như mái rạ, như con đò ngang hữu dụng...Ngần ấy thứ đáng yêu, anh xin trộn lẫn trong bài thơ mang tên HẠNH. Nơi chồn phồn hoa đô hội, nam nhi hay tặng cho các cô hoa hồng. Anh không mua hoa vì hoa nào rồi cũng tàn theo thời gian. Bài thơ nầy dành tặng riêng em như " HOA ĐỒNG" được trao về cho "CỎ NỘI" ! "



TTH

Mạ thoảng hương quen mùi tóc xõa 
Trăng vờn sóng bạc trắng làn da 
Tàu cau tươi nắng, mi cong vút 
Liễu phớt gió chiều, dáng thướt tha. 

Hồng đào chín đỏ, đôi môi mộng
Lưu-ly sương sớm, mắt long lanh
Đồng quê xanh lúa, em thôn nữ
Chẳng biết sầu vương, chẳng nhớ mong.

Đơn sơ mái lá, tuổi xuân thì 
Trong trắng thơ ngây, chưa biết chi 
Dòng sông lờ lững, em hiền dịu 
Xuôi chảy xa nguồn, chưa biết yêu ! 

Mây thêu màu áo, áo thiên thanh
Nho nhả, thanh trang, dáng mong manh
Xuống đò, bước nhẹ, đò khẽ lắc
Tan học, đò ngang, em về nhanh .

Nhà em cách chợ một con sông 
Me-keo thẳng tắp đứng hai dòng 
Giao tàng, rợp mát, che lối nhỏ 
Bến đò, quán vắng, mắt anh trông. 

Chiều nay lộng gió, trời se lạnh
Phất tung tà áo, nắng vàng hanh
Em : tay giữ áo, tay vin nón
Thẹn thùa vội bước, mắt long-lanh.

Nhìn em, không phải là họa sĩ 
Anh gắng dùng thơ vẽ dáng đi 
Một tay che áo, tay giữ nón 
Cảnh đó lòng anh đã khắc ghi. 

Xám thẩm mây trời : mưa tuôn mau
Tránh mưa, quán vắng em vội vào
Bắt gặp mắt anh nhìn si dại
Anh biết lòng em cũng xôn-xao.

Kể từ ngày đó khi tan trường 
Đi ngang quán cũ, em vấn vương 
Tay nghiêng nón lá che khuôn mặt 
E thẹn càng thêm nét dễ thương. 

Năm tháng nhìn nhau chẳng nói chi
Chỉ dùng đôi mắt tỏ tình si
Tuy anh chưa nói, em đã biết
Trong đáy tim anh chứa những gì .



---
Lưu Ca - Tháng 06/2013

16 tháng 5, 2012

mộng cuối đời

Người đi ôm ấp chân tình cũ
Kẻ ở u-hoài với thiên thu . 










MỘNG CUỐI ĐỜI


Suốt năm mươi năm dài ròng rã
Kể từ ngày em đã sang ngang
Gã mơ màng, ngồi bó gối co ro
Tay gõ nhịp đếm đìu hiu của gió

Hay bó thành chùm những tơi tả ngày mưa
Chất chứa vào hồn hết kỷ niệm ngày xưa
Vai oằn gánh, nửa thương, nửa nhớ.
Tâm não gã tràn đầy trăn trở

Chuyên chở tâm tình đầy nỗi băng khoăng
Lưng khòm xuống : khối u-tình trĩu nặng
Gã biếng nói năng, ưu tư, tĩnh lặng
Tóc trở màu, đầu gã trắng phau phau

Tình gã trao đi, nhận về toàn luyến tiếc
Khi đêm tàn dần, nỗi buồn càng da diết
Gã chỉ yêu một lần, một chân tình tha thiết, mộng mơ
Thế là một đời mang mặc cảm bơ vơ

Ngoại hình gã xác xơ, nội tâm chán ngấy
Tình là thế đấy, có gì ngoài mơ với mộng
Tuổi xế chiều, gã nắn nót dệt ảo vọng trong thơ

Cuối đời, gã còn chút ước mơ :
Rất mừng rỡ khi được gặp người yêu năm cũ
Chỉ một lần, một lần thôi cũng đủ
Hơi thở lịm dần, gã viễn du thanh thản ./.

LƯU-CA

29 tháng 2, 2012

giải mã bài thơ "tình già" của phan khôi

Như đã biết, cách nay chẵn 80 năm, vào dịp Tết Nhâm Thân 1932, học giả Phan Khôi đã công bố - trên phụ san Tết của báo Đông tây ở Hà Nội rồi kế đó trên tuần báo Phụ nữ tân văn ở Sài Gòn - bài báo Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ. Bài báo đã đi vào văn học sử Việt Nam như hành động mở đầu phong trào cải cách thơ ca tiếng Việt ở thời hiện đại, - phong trào thơ mới, một phong trào diễn tiến mạnh mẽ, sôi động và đạt thành tựu chắc chắn chỉ trong vòng mười năm, làm thay đổi căn bản diện mạo thơ tiếng Việt, tạo ra một mặt bằng mới cho đời sống thơ ca của người Việt ở thế kỷ XX. 

1. Bài thơ mà Phan Khôi làm theo “một lối thơ mới” và đem “trình chánh giữa làng thơ” vào đầu năm 1932 ấy có tên Tình già. Trong bài thơ người ta nghe thấy lời đối đáp của một đôi tình nhân “hai mươi bốn năm xưa”: người này bảo tình yêu đôi ta đã nặng, vậy mà không thể lấy nhau, đành khuyên “sớm liệu buông nhau”, người kia bảo ta là tình nhân ngãi, “thương được chừng nào hay chừng nấy”…, thế rồi “hai mươi bốn năm sau” tình cờ đất khách gặp nhau, đôi người cũ chỉ còn cách ôn chuyện cũ, tiễn nhau rồi mà “con mắt còn có đuôi”, vẫn còn tiếc nuối ngoái trông nhau! 

Câu chuyện trong bài thơ Tình già có gắn với một chuyện tình có thật hay chỉ thuần túy là hư cấu? - muốn biết điều này, dĩ nhiên chỉ có thể hỏi tác giả. Trong số những người con của tác giả Tình già ít ra có một người, cho đến rất gần đây, đã tin rằng những tình tiết đặt vào bài thơ ấy chắc chắn là được rút từ một mối tình mà chính Phan Khôi trải qua hồi ông mới ngoài hai mươi. Không phải là Phan Nam Sinh (sinh 1940, một trong 10 người con của học giả Phan Khôi) được nghe cha mình kể lại - phần lớn đàn ông thường giữ kín những kỷ niệm loại này trước con cái. - Đây là điều ông Sinh suy ra từ một đoạn tự truyện của chính cha mình. Ấy là bài Một Phan Khôi tự truyện đăng trên Đông Dương tạp chí số Xuân năm 1939. 

vợ chồng học giả Phan Khôi

2. Tôi (Lại Nguyên Ân, tác giả bài viết) đã tìm được 2 bài hồi ức đều mang nhan đề như trên (Một Phan Khôi tự truyện), đăng báo vào dịp đầu xuân các năm 1940, 1942, nhưng chính bài trên Đông Dương tạp chí số Xuân năm 1939 thì tôi chưa tìm ra. Tư liệu này nhà nghiên cứu Vu Gia đọc được gián tiếp qua nhà văn Thế Phong (Phan Khôi qua một chuyện tình trong tù / Giáo dục phổ thông, Sài Gòn, số xuân/số 52-53/1960). Dưới đây xin phép được mượn tài liệu của hai nhà văn Thế Phong và Vu Gia để thuật lại câu chuyện này, có lẽ cũng còn ít người biết. 

Quả là “hai mươi bốn năm xưa”, tính đến năm 1932 ấy! Chuyện xảy ra vào năm 1908, khi Phan Khôi, gần 21 tuổi, bị “án đồ tam niên”, giam tại nhà ngục Quảng Nam, do liên can vụ án xin xâu 1907. Trong khi gia đình người vợ chưa cưới tuyên bố thoái hôn vì lý do chàng rể Phan Khôi lâm vòng lao lý, thì lại có một người đàn bà khác, một mệnh phụ phu nhân, tình cờ gặp gỡ và say mê chàng nho sinh đang trong thân phận tù đày. Oái oăm làm sao, đấy lại là vợ một viên quan võ hàng tứ phẩm được cử trông coi nhà tù. … 

Một ngày kia, viên quan sai lính vào lao hỏi viên đội xem trong đám tù nhân có ai viết chữ tốt thì lấy một người ra viết câu đối cho mình, người ta cử Phan Khôi. Lúc ấy Phan Khôi thấy trong mình đang mệt nhưng nghĩ được dịp đi ra ngoài nhà lao cũng thích. Ta hãy nghe một đoạn do chính Phan Khôi viết ra. … 

“Đến nơi, thấy một đống cũng đến chín mười cân lụa đỏ bỏ ngổn ngang trên chiếu giải dưới đất và một nghiên mực lớn mài sẵn. Một người đàn ông chừng năm mươi tuổi, to lớn, mặt đen, mũi to, ngồi trên sập giữa nhà, ấy là ông Ch. hất hàm chào tôi. Một thiếu phụ còn trẻ lắm, trạc tuổi tôi, người trắng trẻo, khuôn mặt trái xoan, cả đầu lẫn cổ quấn cái khăn nhiễu điều ngồi bên kia sập. 

Bìa đặc san Tập văn mùa xuân của báo Đông tây (Tết Nhân Thân, 1932) - nơi in Tình già

Nhà không có cái ghế nào cả, tôi ngồi ngay trên cái chiếu dưới đất, chỗ để nghiên mực… Ông Ch. bảo tôi: “Có biết uống rượu không thì, trời lạnh, uống mấy chén mà viết cho dựa tay”. - “Bẩm có thì cũng được”. - “Nhà còn nước không mình?” - Ông Ch. xây lại hỏi người thiếu phụ. Tôi nghe mới biết người ấy là bà Ch. vợ ông. - “Có hiếm mấy”. Vừa nói thiếu phụ vừa đứng dậy đi vào bên trong cầm ra một chai rượu thuốc và một cái cốc rót đưa cho tôi một cốc đầy. Tôi uống cạn cốc rượu thì trải lụa ra viết. Ông Ch. sợ tôi viết quấy, cứ theo nhắc từng chữ. Tôi thấy làm bực mình mà không tiện nói thì ông lại còn vẽ cho tôi chữ này viết thế này, chữ kia viết thế kia. Tôi chừng muốn phát cáu. 

Người thiếu phụ xuống khỏi sập, lại gần nói cùng ông Ch.: “Tôi xem người này cầm bút là người viết thạo, in ông để cho người ta viết tự do”. - “Bà nói lạ. Câu đối lụa ít tiền lắm sao?” - “Nhưng đã có ai làm hư của ông đâu? Ngồi kiềm một bên thì còn ai viết được nữa chứ?”. Ông Ch. hình như chịu vợ nói phải, bước ra khỏi chiếc chiếu rồi hai vợ chồng đứng coi tôi. Bấy giờ tôi thấy dễ chịu, hươi cây bút như rồng bay phượng múa, hết đôi này đến đôi khác, càng viết càng tốt. Người thiếu phụ cứ đưa con mắt theo ngòi viết tôi. Còn hơn đôi nữa thì hết, ông Ch. bảo vợ: “Mình ơi mình. Rót thêm cho va cốc nữa đi!” Người thiếu phụ ngoan ngoãn rót cốc rượu đặt trước mặt tôi và nói: “Nghỉ tay uống rượu đã thầy”. Tôi vâng lời như cái máy. Viết xong tôi cung kính chào ông Ch.: “Bẩm quan lớn”. Ông gật. Tôi lại hướng về người thiếu phụ: “Bẩm bà lớn tôi vào”. Thì người đứng dậy: “Tôi không dám, thầy lên”. 

Ít ngày sau, một người tù tên Trưng tìm đến đưa cho Phan Khôi một cái gói. Ta lại nghe chính lời Phan Khôi: “Tôi mở cái gói ra trước mắt Trưng. Đố ai đoán biết được gói gì? Trời ơi! Gói trầu cau! Mười miếng trầu têm kiểu Huế với mười miếng cau bửa dính, mỗi dây năm miếng chồng nanh sấu lên nhau thêm mười mụn vỏ chay và mấy chùm hoa sói. Cái gì lạ! Thực tình tôi không hiểu, hỏi Trưng: “Của ai thế này? Mà lại đưa cho tôi?” - “Của bà Ch.” - Trưng vừa nói vừa cười ngỏn ngoẻn. - “Đưa cho tôi? Tôi biết bà ấy là ai?” - “Ấy thế mới lạ. Thầy mới có chuyện lạ, tôi đã nói”. Trưng nói câu ấy ra dáng đắc ý lắm, và hắn bắt đầu làm như hắn là người có công ơn lắm đối với tôi. Liền tay gói cái gói lại, tôi trao trả Trưng, thêm rằng: “Anh cầm lấy, tôi không biết”. Trưng xin tôi cứ nhận và kể đầu đuôi. - “Lâu nay tôi phục dịch hằng ngày trong nhà ông Ch. và tôi đã được tin cậy nên bà Ch. có đem tình riêng ngỏ với tôi nhiều lần. Bà nói bà thấy thầy thì thương lắm, hôm nay gởi vật nhỏ mọn làm tin, mong ngày khác thầy cho bà gặp để nói chuyện…” 

Tại sao thiếu phụ có chồng làm quan lại say mê chàng thư sinh đang bị tù? Tất nhiên ở đây có những bí ẩn muôn đời của “tiếng sét ái tình”; ngoài ra, Phan Khôi dự đoán lý do có thể còn là ở cảnh ngộ cô gái trẻ bị ép gả cho một người chồng già. Đàn ông được yêu, ai chẳng hãnh diện, nhưng hoàn cảnh tù đày khiến chàng trai trước hết phải nghĩ đến sự hiểm nguy, bởi nếu viên quan chồng nàng biết chuyện thì không khó để kẻ tù nhân kiêm tình địch có thể bị ám hại. Dẫu sao, Phan Khôi vẫn nhận gói quà đưa duyên của thiếu phụ, tức chấp nhận mối tình, dù ở phía ông là thụ động. Ông được biết, nàng đe dọa sẽ quyên sinh nếu không được ông yêu lại. Nàng tìm nhiều cách tạo dịp để gặp mặt ông… Ta lại nghe lời kể của Phan Khôi. 

“Nhà có một mình bà Ch. Bà tiếp tôi trong một phòng xép. Tôi ngồi trên cái chõng nhỏ, bà ngồi ghế bên cạnh, tay đặt lên cái gáy trên cổ tôi, êm đềm nói: “Chớ anh làm gì mà họ tù anh?” Tôi gắng mỉm cười nói bâng quơ một câu: “Thưa bà, bà còn thương hại tôi nữa sao? Nội một cái hoang tôi dám đến đây cùng bà là cũng đủ lắm rồi”. Bỗng thằng Trưng chạy thình thịch từ ngoài ngõ vào, đứng trước cửa sổ đưa tay cao lên, chẳng nói chi hết. Bà Ch. đứng dậy mở cái cửa cho tôi xuống bếp, và bảo tôi cứ đứng yên một lúc sẽ hay. Tôi bấy giờ thấy nguy, nghe có tiếng nói ồ ồ ở nhà trên, tôi mở cửa nhà bếp thoát ra ngõ. Tìm lại người lính, tôi trở về nhà lao một mạch. Ngay đêm hôm ấy, thằng Trưng nói cho tôi biết rằng khi tôi đến, bà ấy liền cho hắn ra đứng canh ngoài đường, phòng ông Ch. trở lại thì vô báo. Quả nhiên ông trở lại, nói các quan còn nửa giờ nữa mới đi, nên ông không tội gì mà ngồi chực, về nhà nghỉ cho khỏe. Hắn lại nói bà phân vân về tôi mãi: sao đã dặn ở đó một chút nữa mà tôi lại bỏ về đi? 

Từ đó bà Ch. vẫn thông tin tức cùng tôi, nhưng cũng không còn dịp nào cho hai chúng tôi gặp nhau nữa. Vì ông Ch. giữ bà ấy cũng như thầy đội đề lao giữ tôi vậy, hàng ngày không dễ gì bà ra khỏi cửa và mỗi lúc ông đi việc quan thì đi rồi về ngay, không để bà ở nhà một mình quá ba giờ đồng hồ. 

Không biết làm sao được, thỉnh thoảng bà Ch. lại bảo Trưng nói với tôi kiếm cách đi ngang qua nhà bà một lần để bà trông thấy. Qua tháng tư năm sau, ông Ch. không ở nhà cũ nữa, dọn về ở cái trại lính cách nhà lao không bao xa. Từ ấy bà ấy cùng tôi dễ và năng trông thấy mặt nhau hơn trước, nhưng vẫn không có dịp gần kề trò chuyện. Đến thằng Trưng mãn tù, giữa hai chúng tôi tin tức cũng thưa dần. 

Một ngày tháng chạp, thình lình tôi tiếp được lá thư của bà Ch., ấy là lần đầu bà viết thư cho tôi mà cũng là lần cuối. Trong thư bà nói nhân gần đi chữa lại đồ nữ trang, muốn gặp tôi tại nhà người thợ bạc, câu này tôi nghĩ mãi: “Dù yêu nhau mà không được gần nhau, thôi thì sống để dạ chết đem đi”. Tôi đến nhà thợ bạc thì gặp bà Ch. ở đó nhưng người trong nhà đông quá, chỉ nhìn nhau mà hai chúng tôi còn sợ tai tiếng, không dám nhìn no nê. Trọn buổi chiều bà Ch. ở đó, làm ông Ch. cũng lò mò tới. Khi trông thấy cái sống mũi đỏ chờn vờn trước cửa thì tôi đã đảo ngõ sau, thành ra thủy chung với bà tôi chẳng trao đổi cùng nhau một lời nào. Tôi không ngờ lần đó là lần cuối cùng tôi gặp bà Ch., vì sang tháng giêng bà lâm bệnh, được đưa về Huế điều trị, rồi mấy tháng sau có tin bà từ trần…” 

3. Mối tình đẹp và buồn thời trẻ trong cảnh ngộ trớ trêu kết thúc ở đấy. Nhưng trong tâm tưởng Phan Khôi, có vẻ như nó không bao giờ chấm dứt. Hai mươi bốn năm sau, dư vị của nó còn được ông nhắc lại. Trong thơ Tình già, cả hai người tình hai mươi bốn năm xưa đều còn sống, chỉ có “đôi mái đầu đều đã bạc” đến nỗi “nếu chẳng quen lung đố có nhìn ra được”. Họ chỉ ôn chuyện tình cũ rồi lại rời xa nhau. Còn ám ảnh mãi mãi là nỗi thèm khát được nhìn nhau, - vì chưa bao giờ được nhìn nhau no nê. “Con mắt còn có đuôi” là vì thế. 

----
25/01/2012 
Lại Nguyên Ân 


Tình già 

Hai mươi bốn năm xưa, một đêm vừa gió lại vừa mưa. 
Dưới ngọn đèn mờ, trong gian nhà nhỏ, hai cái đầu xanh, kề nhau than thở: 
- “Ôi đôi ta, tình thương nhau thì vẫn nặng, mà lấy nhau hẳn đà không đặng; 
Để đến nỗi tình trước phụ sau, chi cho bằng sớm liệu mà buông nhau!” 

- “Hay! Nói mới bạc làm sao chớ! 
Buông nhau làm sao cho nỡ? 
Thương được chừng nào hay chừng nấy, chẳng qua ông Trời bắt đôi ta phải vậy! 
Ta là nhân ngãi, đâu có phải vợ chồng mà tính việc thủy chung?”

...

Hai mươi bốn năm sau, tình cờ đất khách gặp nhau; 
Đôi cái đầu đều bạc. 
Nếu chẳng quen lung, đố có nhìn ra được! 
 Ôn chuyện cũ mà thôi. 
Liếc đưa nhau đi rồi! con mắt còn có đuôi. 

(Tập văn mùa xuân, báo “Đông tây”, Hà Nội, 1932, tr. 6 - 7)

----

26 tháng 2, 2012

tình kế toán



Tập san trường Quốc Gia Thương Mại năm 1958 là tập san duy nhất của trường, các khóa trước và sau năm này không ấn hành thêm ấn bản nào khác. Trong tập san có một bài thơ đúng chất "dân kế toán", chúng tôi xin trân trọng giới thiệu bài thơ "Tình Thương Mại" của anh Lê Hữu Liệu, thủ khoa khóa 4 - do anh Phan Công Bê, một đồng môn cùng khóa ngâm tặng anh chị em đồng môn trường Quốc Gia Thương Mại khi đến thăm nhà anh ở Khu đô thị mới An Phú An Khánh Quận 2 hôm 20-02-2012. Đây là bài thơ anh Lê Hữu Liệu viết tặng cho một cô bạn gái cùng khóa.

TÌNH THƯƠNG MẠI

Đã yêu em anh nguyện yêu THƯƠNG MÃI
Sao em còn e ấp nỗi niềm riêng
Mercedes đây building giấy bạc
Nói đi em sao cứ mãi ưu phiền
Đây CHI PHIẾU đang còn BẢO CHỨNG
Lãnh đi em để QUỸ có tiền dư
Nếu mai mốt anh sinh lòng bội nghĩa
Thì chính em là người SAI ÁP đâu tiên
Tình BÊN TÁ đối với tình BÊN THẢI
Tiền với tình có phải thế chăng em?
Nói đi em sao cứ phải ưu phiền
Tình cho anh, tình còn mãi trong tim

Ba mươi đêm mới có một đêm trăng rằm
Đời vạn nẻo biết ai là người tri kỷ?

Lê Hữu Liệu (khóa 4)

-----
Phan Công Bê (K4)
Email: be_phancong@yahoo.com.vn
Mobile: 0123 6011 698
sưu tầm

8 tháng 10, 2011

đôi dép

Hình minh họa  (Ngọc Diệp)



Bài thơ đầu tiên anh viết tặng em
Là bài thơ anh kể về đôi dép
Khi nỗi nhớ trong lòng da diết
Những vật tầm thường cũng viết thành thơ
Hai chiếc dép kia gặp nhau tự bao giờ
Có yêu nhau đâu mà chẳng rời nửa bước
Cùng gánh vác những nẻo đường xuôi ngược
Lên thảm nhung, xuống cát bụi cùng nhau
Cùng bước, cùng mòn, không kẻ thấp người cao
Cùng chia sẻ sức người đời chà đạp
Dẫu vinh nhục không đi cùng kẻ khác
Số phận chiếc này phụ thuộc ở chiếc kia
Nếu ngày nào một chiếc dép mất đi
Mọi thay thế đều trở thành khập khiễng
Giống nhau lắm nhưng người đi sẽ biết
Hai chiếc này chẳng phải một đôi đâu
Cũng như mình trong những lúc vắng nhau
Bước hụt hẫng cứ nghiêng về một phía
Dẫu bên cạnh đã có người thay thế
Mà trong lòng nỗi nhớ cứ chênh vênh
Đôi dép vô tri khăng khít song hành
Chẳng thề nguyện mà không hề giả dối
Chẳng hứa hẹn mà không hề phản bội
Lối đi nào cũng có mặt cả đôi
Không thể thiếu nhau trên bước đường đời
Dẫu mỗi chiếc ở một bên phải - trái
Nhưng tôi yêu em ở những điều ngược lại
Gắn bó nhau vì một lối đi chung
Hai mảnh đời thầm lặng bước song song
Sẽ dừng lại khi chỉ còn một chiếc
Chỉ còn một là không còn gì hết
Nếu không tìm được chiếc thứ hai kia ...
Nguyễn Trung Kiên

    1 tháng 10, 2011

    một phút xao lòng

    Hình minh họa (Ngọc Diệp)



    Có thể vợ mình xưa cũng có một người yêu
    (Người ấy gọi vợ mình là người yêu cũ)
    Cũng như mình thôi, mình ngày xưa cũng thế
    Yêu một cô, giờ cô ấy đã lấy chồng

    Có thể vợ mình vì những phút mềm lòng
    Nên giấu kín những suy tư, không kể về giấc mộng
    Người yêu cũ vợ mình có những điều mình không có được
    Cô ấy không nói ra vì sợ mình buồn

    Mình cũng có những phút giây cảm thấy xao lòng
    Khi gặp người yêu xưa với những điều vợ mình không có được
    Nghĩ về cái đã qua nhiều khi như nuối tiếc
    Mình cũng chẳng nói ra vì sợ vợ buồn

    Sau những lần nghĩ đâu đâu mình thương vợ mình hơn
    Và cảm thấy mình như người có lỗi
    (Chắc vợ mình hiểu điều mình không nói
    Cô ấy cũng thương yêu và chăm chút mình hơn)

    Mà có trách chi những phút xao lòng
    Ai cũng có một thời đề yêu và một thời để nhớ
    Ai cũng có những phút giây ngoài chồng ngoài vợ
    Đừng có trách chi những phút xao lòng!

    Thuận Hữu

    19 tháng 8, 2011

    phút chạnh lòng



    nguồn: Internet



    Mi chợt ướt ngỡ mưa rơi trên má
    Son thoáng buồn làm nhạt nét viền môi
    Thoáng yêu đương vẫn quay quắt trong tôi
    Bao kỷ niệm lẻn về trong đêm tối.

    Ngồi trầm ngâm, lòng ngổn ngang trăm mối
    Tôi mơ màng nghe uất nghẹn, bơ vơ
    Buồn dâng cao khi anh ấy hững hờ
    Đau chất ngất khi tình đầu tan vỡ.

    Chiều nay tâm tư vấn vương, trăn trở
    Mây cũng sầu và gió cũng bâng khuâng
    Mi nhuốm buồn, chút dư lệ trào dâng
    Đôi môi nhạt in bóng chiều hụt hẫng.

    Tôi thả hồn theo áng mây thơ thẩn
    Phút chạnh lòng: nước mắt dệt màn sương
    Vẫn không nhòa hình bóng người tôi thương
    Chiều lịm tắt thêm buồn trong tâm tưởng.

    LƯU CA

    25 tháng 7, 2011

    cõi thơ




    Chia tay, tôi học làm thi sĩ,
    Trau chuốt thành vần chuyện biệt ly
    Khi thương, lúc nhớ đêm trăn trở
    Lảo đảo hồn xiêu trong cõi thơ
    Em đi, lưu lại màu mắt biếc
    Nuối tiếc nhiều thêm, chuyện cũng rồi
    Mây trôi, nước chảy, đời hiu quạnh
    Chạnh nhớ người xưa, nhớ không thôi.
    Đêm đen, vọng nỗi buồn xa vắng
    Hòa đồng tâm trạng, cảnh lặng thinh
    In đôi mắt biếc vào ký ức
    THao thức năm canh, ngắm một mình.
    Tình xưa cô đọng trong vần nhớ
    Dấu trong âm điệu chút mộng mơ
    Ghép thêm vào ý... lời than thở
    Mắt biếc u hoài... đẹp áng thơ ./.



     Lưu-Ca

    14 tháng 10, 2010

    mưa rào cuối thu














    Lá vàng gió cuốn chao rơi,
    Dù ai hờ-hững một đời vẫn yêu.
    Tiêu-sơ lá đổ muôn chiều,
    Vấn vương, tê-tái, hắt hiu kiếp người.

    Gom thương nhớ đan thành nguồn thi-cảm,
    Sắc thu buồn da-diết dệt hồn thơ,
    Giấy, bút, thư em…còn in đậm nét ơ thờ,
    Nên anh ngại nhắc chuyện ngày xưa dang-dở.
    Mình đã chia xa, hết rồi phút giây bỡ-ngỡ
    Của thuở ban đầu khi mới yêu nhau.
    Gặp lại hôm nay sao em ngượng-ngập câu chào,
    Như ngầm trao dư lệ, như khơi lại niềm đau !


    Bềnh-bồng gió lộng, tóc em bay,
    Đứng sát bên em thấy lạc-loài
    Nghe rõ trong lòng đang khắc-khoải,
    Nói được gì đâu…ngập đắng cay.
    Gió lộng bồng-bềnh áo em bay,
    Em chẳng nhìn anh, khẽ nhíu mày,
    Ngấn lệ vương-vương nơi khóe mắt,
    Tay che vạt áo, má hây hây.


    Nhìn nhẫn tay em bỗng nghẹn ngào,
    Xì-xào tiếng gió, lá lao-xao.
    Ước-ao như lá, vô tri giác,
    Không biết buồn thương, chẳng biết đau.
    Phút giây gặp gỡ chóng qua mau,
    Em vội lánh đi dưới mưa rào,
    Mưa chưa ướt áo, lòng ướt sũng,
    Ngẩn-ngơ lúng túng , tim nhói đau.


    Thờ-thẫn trông theo em từng bước,
    Tha-thướt như xưa dáng thon gầy,
    Tình anh ngỡ tắt như than lạnh,
    Nào ngờ vẫn cháy, vẫn còn đây.
    Sao trời mau mưa và chóng nắng,
    Cho tâm-hồn trống vắng đơn-côi,
    Sao em chợt đến rồi đi vội,
    Cơ-hội gặp nhau đã hết rồi.


    Cơn mưa rào cũng là cơn giải-thoát
    Để chúng mình khỏi ngơ-ngác nhìn nhau,
    Cho tim lắng đi tình cảm rạt-rào,
    Cơn mưa nào cũng tăng thêm áo-não.
    Tình phai cũ, sao mỗi ngày niềm đau vẫn mới,
    Anh thích một mình nín-lặng dón chiều rơi,
    Chơi-vơi lá úa tàn thu rụng,
    Anh ngắm mông lung... vọng cuối trời. / .


    Lưu Ca
    ( Làm tại Công viên LES BOIS de BOULOGNE – PARIS - FRANCE )

    20 tháng 5, 2010

    tiếng huế 4 Today


    part 1.
    Đi đâu thì nói "đi mô"
    "O nớ" ám chỉ "cái cô" chung trường
    "Ốt dột" khi tui nói thương
    Có nghĩa "Mắc cỡ" má vương nụ hồng

    "Khôn" là đồng nghĩa với không
    Chẳng muốn lấy chồng, "khôn muốn lấy dôn"
    "Đoản hậu" là "Ác" en ni
    Tui đã im lặng cứ đi theo hoài

    Nhà tui còn khoảng đường dài
    Có chi noái nấy, ngày mai hết rồi
    Trên cao thì nói "trên côi"
    "Đi rượng" là lúc sóng đôi như chừ

    "Phủ phê" là lúc thặng dư
    Như là tình cảm "đã nư" no đầy
    "Như ri" có nghĩa như vầy
    Mô Tê Răng Rứa em quây mòng mòng

    part 2.
    "Ở nể" đồng nghĩa ở không
    Trai không lí dzợ không chồng "ế dôn"
    Ngu ngu thì nói "khôn khun"
    Dại dại mô tả "đù đù"mặt ra

    Còn trẻ thì nói "chưa tra"
    Tới tuổi già già khú đế là "ôn"
    Có cô thiếu nữ lấy "dôn"
    Lấy được ông chồng thăng chức "mụ o"

    "Răng chừ" đồng nghĩa "khi mô"
    "Khi mô" có nghĩa khi nào đó thôi
    "Khi mô" có cặp có đôi
    "Răng chừ" hết cảnh tuổi đời bơ vơ

    Đơn côi "cái trốt" dật dờ
    Là ôm đầu bạc "cà ngơ" một mình
    Lặng yên thì nói "mần thinh"
    Để nghe len lén duyên tình giăng tơ

    "Mua lửa" thì thật phải lo
    Vì là mua chịu ai cho "lửa" hoài
    "Mắc lửa" là thiếu nợ dài
    "Lửa" chi không thiếu chẳng phai "lửa tình"

    "Sáng mơi" là lúc bình minh
    Của ngày kế tiếp nong tình đem phơi
    "Bữa tê" em hẹn lại chơi
    Quên bẵng cái việc em mời bữa kia

    "Bữa tề" mang lịch ra chia
    "Bữa tể" là trước bữa kia hai ngày
    "Bữa ni" là bữa hôm nay
    Là lúc đương nói hàng hai đây nì

    "Mần chi" ai hỏi làm chi
    Em muốn làm gì, "răng hoải mần chi?"
    Thế này thì nói "ri nì"
    "Rứa tề", thế đó mần chi đây hè?

    Cái cây thì noái cái "que"
    Còn ở trước hè lại nói cái "cươi"
    Cái "ôn" bản mặt tươi tươi
    Ưa đi tán bậy là người "vô duyên"

    part 3.
    Lấy chồng răng gọi mụ o
    Anh trai lấy vợ, mình thành mụ o
    Mụ o hiền hậu khỏi lo
    Mụ o nhiều chuyện là mụ o dọn "mồm"

    Tối qua thì nói khi hôm
    Hoàng hôn : "chạng vạng", nghe run quá trời !
    Sớm mơi mang "chuổi xuốt cơi"
    Sài Gòn nghe thấy thì cười bò lăn

    Lỡ ưng rồi, biết mần răng
    Cái giọng trọ trẹ... cũng muốn ăn chung một nồi
    Con gái chưa noái đã cười
    Bị người ta noái là người vô duyên

    Đọc thơ Cai thấy đã ghiền
    Huế ơi nhớ quá, muốn bay liền ra ngay...


    Cai Vĩnh

    12 tháng 5, 2010

    ông đồ già











    Mỗi năm hoa đào nở
    Lại thấy ông đồ già
    Bày mực tàu, giấy đỏ
    Bên phố đông người qua

    Bao nhiêu người thuê viết
    Tấm tắc ngợi khen tài
    "Hoa tay thao những nét
    Như phượng múa rồng bay".

    Nhưng mỗi năm, mỗi vắng
    Người thuê viết nay đâu
    Giấy đỏ buồn không thắm
    Mực đọng trong nghiên sầu ...

    Ông đồ vẫn ngồi đấy,
    Qua đường không ai hay .
    Lá vàng rơi trên giấy,
    Ngoài trời mưa bụi bay .

    Năm nay đào lại nở,
    Không thấy ông đồ xưa .
    Những người muôn năm cũ,
    Hồn ở đâu bây giờ ?

    Vũ Đình Liên

    11 tháng 5, 2010

    ngôn ngữ Bắc Nam

    Bắc than Gầy thì Nam bảo Ốm
    Bắc cáo Ốm, Nam khai Bịnh hay Ðau
    Bắc Cuốc nhanh, Nam Ði Bộ mau mau
    Bắc bảo Muộn thì Nam cho là Trễ
    Nam Mần sơ sơ Bắc Nàm nấy nệ
    Bắc Lệ trào Nam Chảy nước mắt ra
    Bắc nói Úi Chà, Nam kêu Ui Da
    Bắc Bước vào kia, Nam Ði vô trỏng
    Nam kêu Vạc Tre, Bắc là Cái Chõng
    Nam Trả Treo, Bắc Lý Luận ngược xuôi
    Nam biểu Vui Ghê, Bắc nói Buồn Cười
    Bắc chỉ Thế Thôi, Nam là Vậy Ðó
    Nam làm Giỏ Tre, Bắc đan cái Rọ
    Nam Muỗng cà phê, Bắc gọi cái Thìa
    Nam Muỗng canh, Bắc gọi cái Cùi dìa
    Nam Ði tuốt, thì Bắc Lìa xa mãi
    Nam Nói Dai, Bắc cho là Lải Nhải
    Nam kêu Xe Hơi, Bắc gọi Ô Tô
    Nam xài Dù, thì Bắc lại dùng Ô
    Nam Ði trốn, Bắc cho là Lánh mặt
    Nam la Hơi Mắc, Bắc là Khá Ðắt
    Nam Mần Ăn, thì Bắc cũng Kinh Doanh
    Nam Chối Lòng Vòng, Bắc bảo Dối Quanh
    Nam biểu Từ Từ, Bắc khuyên Gượm lại
    Nam Ngu Ghê, còn Bắc là Quá Dại
    Nam Sợ Ghê, Bắc thì Hãi Quá đi
    Nam Nói Gì ? Bắc hỏi Dạ bảo chi
    Nam kêu Trúng Lắm, Bắc bàn Chí Phải

    Bắc gọi Thích ghê, Nam kêu là Khoái
    Bắp Nam kêu hái, Bắc bảo Vặt Ngô
    Bắc thích cứ Vồ, Nam ưng là Chụp
    Nam rờ Bông Bụp, Bắc vuốt Tường Vi
    Nam nói: mày đi ! Bắc rên: cút xéo
    Bắc bảo: cứ véo ! Nam: ngắt nó đị
    Bắc gửi phong bì, bao thơ Nam gói
    Nam kêu: muốn ói, Bắc bảo: buồn nôn !
    Bắc nói tiền đồn, Nam kêu chòi gác
    Bắc nói khoác lác, Nam bảo xạo ke
    Mưa đến Nam che, gió ngang Bắc chắn
    Bắc khen giỏi mắng, Nam nói chửi hay
    Bắc nấu thịt cầy, Nam chê thịt chó
    Bắc vén búi tó, Nam bới tóc lên
    Anh Cả Bắc quên, anh Hai Nam lú
    Nam: ăn đi chú, Bắc: mời anh xơi !
    Bắc mới tập bơi, Nam thời đi lội
    Bắc đi phó hội, Nam tới chia vui
    Bắc kéo xe lôi, xích lô Nam đạp
    Bắc bảo cao to Nam cho là lớn
    Ðùa mà không thật, Bắc bảo là điêu
    Giỡn hớt đã nhiều, Nam kêu là xạo
    Nam thời mập bạo, Bắc bảo béo ghê
    Bắc bảo sướng phê, Nam rên đã quá !
    Bắc hay đi phá Bắc đả bằng gươm
    Nam chọc bị lườm, kiếm Nam, Nam thọt
    Bắc uống bia bọt, Nam nhậu lade
    Bắc bùi bùi lạc rang, Nam thơm thơm đậu phụng
    Nam tròm trèm ăn vụng, Bắc len lén ăn vèn
    Nam toe toét "hổng chịu đèn", Bắc vặn mình "em chả"
    Bắc giấm chua "cái ả", Nam bặm trợn "con kia"
    Nam chửi "tên cà chua", Bắc rủa "đồ phải gió"
    Nam nhậu nhẹt thịt chó, Bắc đánh chén cầy tơ
    Bắc vờ vịt lá mơ, Nam thẳng thừng lá thúi địt !

    (sưu tầm)