Chào mừng các bạn đến với - Góc Thương Mại - do các cựu thành viên trường Quốc Gia Thương Mại tại Việt Nam thực hiện
Hiển thị các bài đăng có nhãn suu tam. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn suu tam. Hiển thị tất cả bài đăng

22 tháng 3, 2012

huế xưa


chiều chiều trước bến Văn Lâu,
ai ngồi ai câu, ai sầu ai thảm,
ai thương ai cảm, ai nhớ ai trông,
thuyền ai thấp thoáng trên sông,
đưa câu mái đẩy chạnh lòng nước non…

HUẾ nhìn từ trên cao
Ngọ Môn
Văn Miếu
chùa Thiên Mụ

Huế năm 1966
Huế năm Mậu Thân 1968
Huế năm 1970
các quan trong triều
vua Khải Định đi săn
voi quỳ lạy
súng thần công
nhạc công
cầu Clémenceau (Trường Tiền) - 1930
chợ Đông Ba - 1927
Hoàng đế Bảo Đại
Hoàng hậu Nam Phương
Hoàng hậu Nam Phương, Hoàng tử Bảo Long, Đức Từ Cung, Hoàng đế Bảo Đại
Hoàng hậu Nam Phương,
Hoàng tử Bảo Long, Công chúa Phương Mai

phi trường Phú Bài
đèo Hải Vân

MÓN ĂN HUẾ

Bún bò Mụ Rớt
Cơm hến
Bánh canh Nam Phổ
Bánh Khoái
Nem Lụi
Bánh Bèo
Bánh Nậm
Bánh lá chả tôm
Bánh bột lọc
Bánh ít ram
Nem chua
Mắm tôm chua
Ốc Huế: chút cay của ớt, chút nồng của gừng sả
Mè xửng
Chè hột sen nhãn lồng
Chè bắp Cồn Hến
Nem Công
Chả Phụng
Bưởi Thanh Trà
Trái Sim

----
Thu Phong (sưu tầm)

29 tháng 2, 2012

giải mã bài thơ "tình già" của phan khôi

Như đã biết, cách nay chẵn 80 năm, vào dịp Tết Nhâm Thân 1932, học giả Phan Khôi đã công bố - trên phụ san Tết của báo Đông tây ở Hà Nội rồi kế đó trên tuần báo Phụ nữ tân văn ở Sài Gòn - bài báo Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ. Bài báo đã đi vào văn học sử Việt Nam như hành động mở đầu phong trào cải cách thơ ca tiếng Việt ở thời hiện đại, - phong trào thơ mới, một phong trào diễn tiến mạnh mẽ, sôi động và đạt thành tựu chắc chắn chỉ trong vòng mười năm, làm thay đổi căn bản diện mạo thơ tiếng Việt, tạo ra một mặt bằng mới cho đời sống thơ ca của người Việt ở thế kỷ XX. 

1. Bài thơ mà Phan Khôi làm theo “một lối thơ mới” và đem “trình chánh giữa làng thơ” vào đầu năm 1932 ấy có tên Tình già. Trong bài thơ người ta nghe thấy lời đối đáp của một đôi tình nhân “hai mươi bốn năm xưa”: người này bảo tình yêu đôi ta đã nặng, vậy mà không thể lấy nhau, đành khuyên “sớm liệu buông nhau”, người kia bảo ta là tình nhân ngãi, “thương được chừng nào hay chừng nấy”…, thế rồi “hai mươi bốn năm sau” tình cờ đất khách gặp nhau, đôi người cũ chỉ còn cách ôn chuyện cũ, tiễn nhau rồi mà “con mắt còn có đuôi”, vẫn còn tiếc nuối ngoái trông nhau! 

Câu chuyện trong bài thơ Tình già có gắn với một chuyện tình có thật hay chỉ thuần túy là hư cấu? - muốn biết điều này, dĩ nhiên chỉ có thể hỏi tác giả. Trong số những người con của tác giả Tình già ít ra có một người, cho đến rất gần đây, đã tin rằng những tình tiết đặt vào bài thơ ấy chắc chắn là được rút từ một mối tình mà chính Phan Khôi trải qua hồi ông mới ngoài hai mươi. Không phải là Phan Nam Sinh (sinh 1940, một trong 10 người con của học giả Phan Khôi) được nghe cha mình kể lại - phần lớn đàn ông thường giữ kín những kỷ niệm loại này trước con cái. - Đây là điều ông Sinh suy ra từ một đoạn tự truyện của chính cha mình. Ấy là bài Một Phan Khôi tự truyện đăng trên Đông Dương tạp chí số Xuân năm 1939. 

vợ chồng học giả Phan Khôi

2. Tôi (Lại Nguyên Ân, tác giả bài viết) đã tìm được 2 bài hồi ức đều mang nhan đề như trên (Một Phan Khôi tự truyện), đăng báo vào dịp đầu xuân các năm 1940, 1942, nhưng chính bài trên Đông Dương tạp chí số Xuân năm 1939 thì tôi chưa tìm ra. Tư liệu này nhà nghiên cứu Vu Gia đọc được gián tiếp qua nhà văn Thế Phong (Phan Khôi qua một chuyện tình trong tù / Giáo dục phổ thông, Sài Gòn, số xuân/số 52-53/1960). Dưới đây xin phép được mượn tài liệu của hai nhà văn Thế Phong và Vu Gia để thuật lại câu chuyện này, có lẽ cũng còn ít người biết. 

Quả là “hai mươi bốn năm xưa”, tính đến năm 1932 ấy! Chuyện xảy ra vào năm 1908, khi Phan Khôi, gần 21 tuổi, bị “án đồ tam niên”, giam tại nhà ngục Quảng Nam, do liên can vụ án xin xâu 1907. Trong khi gia đình người vợ chưa cưới tuyên bố thoái hôn vì lý do chàng rể Phan Khôi lâm vòng lao lý, thì lại có một người đàn bà khác, một mệnh phụ phu nhân, tình cờ gặp gỡ và say mê chàng nho sinh đang trong thân phận tù đày. Oái oăm làm sao, đấy lại là vợ một viên quan võ hàng tứ phẩm được cử trông coi nhà tù. … 

Một ngày kia, viên quan sai lính vào lao hỏi viên đội xem trong đám tù nhân có ai viết chữ tốt thì lấy một người ra viết câu đối cho mình, người ta cử Phan Khôi. Lúc ấy Phan Khôi thấy trong mình đang mệt nhưng nghĩ được dịp đi ra ngoài nhà lao cũng thích. Ta hãy nghe một đoạn do chính Phan Khôi viết ra. … 

“Đến nơi, thấy một đống cũng đến chín mười cân lụa đỏ bỏ ngổn ngang trên chiếu giải dưới đất và một nghiên mực lớn mài sẵn. Một người đàn ông chừng năm mươi tuổi, to lớn, mặt đen, mũi to, ngồi trên sập giữa nhà, ấy là ông Ch. hất hàm chào tôi. Một thiếu phụ còn trẻ lắm, trạc tuổi tôi, người trắng trẻo, khuôn mặt trái xoan, cả đầu lẫn cổ quấn cái khăn nhiễu điều ngồi bên kia sập. 

Bìa đặc san Tập văn mùa xuân của báo Đông tây (Tết Nhân Thân, 1932) - nơi in Tình già

Nhà không có cái ghế nào cả, tôi ngồi ngay trên cái chiếu dưới đất, chỗ để nghiên mực… Ông Ch. bảo tôi: “Có biết uống rượu không thì, trời lạnh, uống mấy chén mà viết cho dựa tay”. - “Bẩm có thì cũng được”. - “Nhà còn nước không mình?” - Ông Ch. xây lại hỏi người thiếu phụ. Tôi nghe mới biết người ấy là bà Ch. vợ ông. - “Có hiếm mấy”. Vừa nói thiếu phụ vừa đứng dậy đi vào bên trong cầm ra một chai rượu thuốc và một cái cốc rót đưa cho tôi một cốc đầy. Tôi uống cạn cốc rượu thì trải lụa ra viết. Ông Ch. sợ tôi viết quấy, cứ theo nhắc từng chữ. Tôi thấy làm bực mình mà không tiện nói thì ông lại còn vẽ cho tôi chữ này viết thế này, chữ kia viết thế kia. Tôi chừng muốn phát cáu. 

Người thiếu phụ xuống khỏi sập, lại gần nói cùng ông Ch.: “Tôi xem người này cầm bút là người viết thạo, in ông để cho người ta viết tự do”. - “Bà nói lạ. Câu đối lụa ít tiền lắm sao?” - “Nhưng đã có ai làm hư của ông đâu? Ngồi kiềm một bên thì còn ai viết được nữa chứ?”. Ông Ch. hình như chịu vợ nói phải, bước ra khỏi chiếc chiếu rồi hai vợ chồng đứng coi tôi. Bấy giờ tôi thấy dễ chịu, hươi cây bút như rồng bay phượng múa, hết đôi này đến đôi khác, càng viết càng tốt. Người thiếu phụ cứ đưa con mắt theo ngòi viết tôi. Còn hơn đôi nữa thì hết, ông Ch. bảo vợ: “Mình ơi mình. Rót thêm cho va cốc nữa đi!” Người thiếu phụ ngoan ngoãn rót cốc rượu đặt trước mặt tôi và nói: “Nghỉ tay uống rượu đã thầy”. Tôi vâng lời như cái máy. Viết xong tôi cung kính chào ông Ch.: “Bẩm quan lớn”. Ông gật. Tôi lại hướng về người thiếu phụ: “Bẩm bà lớn tôi vào”. Thì người đứng dậy: “Tôi không dám, thầy lên”. 

Ít ngày sau, một người tù tên Trưng tìm đến đưa cho Phan Khôi một cái gói. Ta lại nghe chính lời Phan Khôi: “Tôi mở cái gói ra trước mắt Trưng. Đố ai đoán biết được gói gì? Trời ơi! Gói trầu cau! Mười miếng trầu têm kiểu Huế với mười miếng cau bửa dính, mỗi dây năm miếng chồng nanh sấu lên nhau thêm mười mụn vỏ chay và mấy chùm hoa sói. Cái gì lạ! Thực tình tôi không hiểu, hỏi Trưng: “Của ai thế này? Mà lại đưa cho tôi?” - “Của bà Ch.” - Trưng vừa nói vừa cười ngỏn ngoẻn. - “Đưa cho tôi? Tôi biết bà ấy là ai?” - “Ấy thế mới lạ. Thầy mới có chuyện lạ, tôi đã nói”. Trưng nói câu ấy ra dáng đắc ý lắm, và hắn bắt đầu làm như hắn là người có công ơn lắm đối với tôi. Liền tay gói cái gói lại, tôi trao trả Trưng, thêm rằng: “Anh cầm lấy, tôi không biết”. Trưng xin tôi cứ nhận và kể đầu đuôi. - “Lâu nay tôi phục dịch hằng ngày trong nhà ông Ch. và tôi đã được tin cậy nên bà Ch. có đem tình riêng ngỏ với tôi nhiều lần. Bà nói bà thấy thầy thì thương lắm, hôm nay gởi vật nhỏ mọn làm tin, mong ngày khác thầy cho bà gặp để nói chuyện…” 

Tại sao thiếu phụ có chồng làm quan lại say mê chàng thư sinh đang bị tù? Tất nhiên ở đây có những bí ẩn muôn đời của “tiếng sét ái tình”; ngoài ra, Phan Khôi dự đoán lý do có thể còn là ở cảnh ngộ cô gái trẻ bị ép gả cho một người chồng già. Đàn ông được yêu, ai chẳng hãnh diện, nhưng hoàn cảnh tù đày khiến chàng trai trước hết phải nghĩ đến sự hiểm nguy, bởi nếu viên quan chồng nàng biết chuyện thì không khó để kẻ tù nhân kiêm tình địch có thể bị ám hại. Dẫu sao, Phan Khôi vẫn nhận gói quà đưa duyên của thiếu phụ, tức chấp nhận mối tình, dù ở phía ông là thụ động. Ông được biết, nàng đe dọa sẽ quyên sinh nếu không được ông yêu lại. Nàng tìm nhiều cách tạo dịp để gặp mặt ông… Ta lại nghe lời kể của Phan Khôi. 

“Nhà có một mình bà Ch. Bà tiếp tôi trong một phòng xép. Tôi ngồi trên cái chõng nhỏ, bà ngồi ghế bên cạnh, tay đặt lên cái gáy trên cổ tôi, êm đềm nói: “Chớ anh làm gì mà họ tù anh?” Tôi gắng mỉm cười nói bâng quơ một câu: “Thưa bà, bà còn thương hại tôi nữa sao? Nội một cái hoang tôi dám đến đây cùng bà là cũng đủ lắm rồi”. Bỗng thằng Trưng chạy thình thịch từ ngoài ngõ vào, đứng trước cửa sổ đưa tay cao lên, chẳng nói chi hết. Bà Ch. đứng dậy mở cái cửa cho tôi xuống bếp, và bảo tôi cứ đứng yên một lúc sẽ hay. Tôi bấy giờ thấy nguy, nghe có tiếng nói ồ ồ ở nhà trên, tôi mở cửa nhà bếp thoát ra ngõ. Tìm lại người lính, tôi trở về nhà lao một mạch. Ngay đêm hôm ấy, thằng Trưng nói cho tôi biết rằng khi tôi đến, bà ấy liền cho hắn ra đứng canh ngoài đường, phòng ông Ch. trở lại thì vô báo. Quả nhiên ông trở lại, nói các quan còn nửa giờ nữa mới đi, nên ông không tội gì mà ngồi chực, về nhà nghỉ cho khỏe. Hắn lại nói bà phân vân về tôi mãi: sao đã dặn ở đó một chút nữa mà tôi lại bỏ về đi? 

Từ đó bà Ch. vẫn thông tin tức cùng tôi, nhưng cũng không còn dịp nào cho hai chúng tôi gặp nhau nữa. Vì ông Ch. giữ bà ấy cũng như thầy đội đề lao giữ tôi vậy, hàng ngày không dễ gì bà ra khỏi cửa và mỗi lúc ông đi việc quan thì đi rồi về ngay, không để bà ở nhà một mình quá ba giờ đồng hồ. 

Không biết làm sao được, thỉnh thoảng bà Ch. lại bảo Trưng nói với tôi kiếm cách đi ngang qua nhà bà một lần để bà trông thấy. Qua tháng tư năm sau, ông Ch. không ở nhà cũ nữa, dọn về ở cái trại lính cách nhà lao không bao xa. Từ ấy bà ấy cùng tôi dễ và năng trông thấy mặt nhau hơn trước, nhưng vẫn không có dịp gần kề trò chuyện. Đến thằng Trưng mãn tù, giữa hai chúng tôi tin tức cũng thưa dần. 

Một ngày tháng chạp, thình lình tôi tiếp được lá thư của bà Ch., ấy là lần đầu bà viết thư cho tôi mà cũng là lần cuối. Trong thư bà nói nhân gần đi chữa lại đồ nữ trang, muốn gặp tôi tại nhà người thợ bạc, câu này tôi nghĩ mãi: “Dù yêu nhau mà không được gần nhau, thôi thì sống để dạ chết đem đi”. Tôi đến nhà thợ bạc thì gặp bà Ch. ở đó nhưng người trong nhà đông quá, chỉ nhìn nhau mà hai chúng tôi còn sợ tai tiếng, không dám nhìn no nê. Trọn buổi chiều bà Ch. ở đó, làm ông Ch. cũng lò mò tới. Khi trông thấy cái sống mũi đỏ chờn vờn trước cửa thì tôi đã đảo ngõ sau, thành ra thủy chung với bà tôi chẳng trao đổi cùng nhau một lời nào. Tôi không ngờ lần đó là lần cuối cùng tôi gặp bà Ch., vì sang tháng giêng bà lâm bệnh, được đưa về Huế điều trị, rồi mấy tháng sau có tin bà từ trần…” 

3. Mối tình đẹp và buồn thời trẻ trong cảnh ngộ trớ trêu kết thúc ở đấy. Nhưng trong tâm tưởng Phan Khôi, có vẻ như nó không bao giờ chấm dứt. Hai mươi bốn năm sau, dư vị của nó còn được ông nhắc lại. Trong thơ Tình già, cả hai người tình hai mươi bốn năm xưa đều còn sống, chỉ có “đôi mái đầu đều đã bạc” đến nỗi “nếu chẳng quen lung đố có nhìn ra được”. Họ chỉ ôn chuyện tình cũ rồi lại rời xa nhau. Còn ám ảnh mãi mãi là nỗi thèm khát được nhìn nhau, - vì chưa bao giờ được nhìn nhau no nê. “Con mắt còn có đuôi” là vì thế. 

----
25/01/2012 
Lại Nguyên Ân 


Tình già 

Hai mươi bốn năm xưa, một đêm vừa gió lại vừa mưa. 
Dưới ngọn đèn mờ, trong gian nhà nhỏ, hai cái đầu xanh, kề nhau than thở: 
- “Ôi đôi ta, tình thương nhau thì vẫn nặng, mà lấy nhau hẳn đà không đặng; 
Để đến nỗi tình trước phụ sau, chi cho bằng sớm liệu mà buông nhau!” 

- “Hay! Nói mới bạc làm sao chớ! 
Buông nhau làm sao cho nỡ? 
Thương được chừng nào hay chừng nấy, chẳng qua ông Trời bắt đôi ta phải vậy! 
Ta là nhân ngãi, đâu có phải vợ chồng mà tính việc thủy chung?”

...

Hai mươi bốn năm sau, tình cờ đất khách gặp nhau; 
Đôi cái đầu đều bạc. 
Nếu chẳng quen lung, đố có nhìn ra được! 
 Ôn chuyện cũ mà thôi. 
Liếc đưa nhau đi rồi! con mắt còn có đuôi. 

(Tập văn mùa xuân, báo “Đông tây”, Hà Nội, 1932, tr. 6 - 7)

----

22 tháng 2, 2012

thư giãn - than dữ !!!




1 ngu yêu gái nhà giàu. Ăn chơi quá trớn theo hầu cực thân
2 ngu yêu gái trẻ măng. Suốt ngày vòi vĩnh, lăng nhăng bực mình
3 ngu yêu gái minh tinh. Cặp bồ tứ xứ chung tình bao lâu?
4 ngu yêu gái học cao. Nói năng hống hách, cái đầu bị điên
5 ngu yêu gái chức quyền. Ra oai hạch sách mất duyên nhu mì
6 ngu yêu gái ca nhi. Nữa đêm gần vợ, vợ thì đương ca
7 ngu yêu gái đã già. Chị, em kết nghĩa.... người ta tưởng lầm
8 ngu yêu gái... bà chằn. Thân hình bầm dập, ngựa vằn còn thua
9 ngu yêu gái chanh chua. Chửi la chỉ muốn vào chùa làm tăng
10 ngu yêu gái mỹ nhân. Suốt ngày lo sợ nàng thăng...vì tiền
Khi yêu không được nên duyên
Yêu ngu chỉ chuốc thêm phiền vào thân...



Tình bạn giữa những người phụ nữ : Cô vợ không về nhà 1 đêm. Sáng hôm sau, cô vợ nói với chồng rằng mình đã qua đêm tại nhà 1 cô bạn gái. Anh chồng check 10 cô bạn gái thân nhất của vợ, nhưng chẳng cô nào biết về chuyện ấy cả.

Tình bạn giữa những người đàn ông : Anh chàng không về nhà 1 đêm. Sáng hôm sau, anh ta nói với vợ rằng mình đã qua đêm tại nhà 1 anh bạn. Cô vợ lập tức cầm điện thoại check 10 ông bạn thân của chồng. 8 người trong số đó xác nhận rằng anh ta đã ở đó đêm qua, 2 người còn lại nói rằng anh ta vẫn đang ngủ . 



Yêu nhau trong sáng,
Phang nhau trong tối
Tiền thì anh không thiếu!
Nhưng nhiều thì anh không có
----

Tâm tư tàn tạ tình tan tác
Man mác mênh mông mãi mộng mơ
Đớn đau đưa đẩy đời đơn độc…
Thao thức thẹn thùng thấy thảm thương
Vội vàng vô vọng vì vương vấn
Lả lơi lành lạnh lòng lẻ loi
Canh cánh cồn cào càng côi cút
Mệt mỏi mong manh mãi một mình
----


Lê Thị Hường K16 (Vĩnh Long)
sưu tầm

30 tháng 1, 2012

đại hạ giá



Thời buổi này còn cái gì không hạ giá nhỉ? Sách vở, quần áo, đồ điện tử v...v... hạ giá! Tôi cầm mảnh bằng đại học cạ cục mãi chưa tìm ra việc làm, cũng nhào ra vỉa hè bán sách đại hạ giá. Từ Victor Hugo, Lev Tolstoy, Tagore, Dostoievski... đến Khái Hưng, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng... cả thảy đều bị “hạ” nằm la liệt. Lắm lúc ngồi chồm hổm nhìn xuống các tên tuổi từng “vang bóng một thời”, tôi thầm hỏi: 

- Nên cười hay nên khóc, thưa chư liệt vị? 

Cách đây ít lâu, một ông lão hình dáng tiều tụy mang đến bán hai pho sách dày. Một cuốn là “Hán Việt Từ Điển” của Đào Duy Anh do Khai Trí tái bản. Cuốn kia là “Petit Larousse Illustré” in tại Paris năm 1973. Sách còn tinh tươm lắm, hẳn chủ nhân đã xài rất kỹ. Thấy giá rẻ, tôi mua. Loại ấn bản này đây, gặp loại khách biên biết, bán cũng được lời. 

Ngoài bìa và một số trang ruột của mỗi cuốn, đều có ấn dấu son hình ellipse: “Bibliothèque - Đô Bi - Professeur”. À, té ra ông lão vốn từng là giáo chức. Thảo nào! Cất tiền vào ví rồi mà ông cứ dùng dằng nuối tiếc, ngoảnh lại nhìn những tài liệu - tài sản phải đứt ruột bán đi. Ngoái mãi mấy lần rồi ông mới dắt chiếc xe đạp cà tàng đạp về. Mắt ông đỏ hoe. Lòng tôi chợt se lại! 

Chiều 25 Tết. Ngồi cạnh các danh tác tôi vẫn lim dim, thấp thỏm, chồm hổm ra đấy. Qua đường không ai thấy, lá vàng rơi trên giấy. Sài Gòn chả có mưa bụi cho đủ khổ thơ Vũ Đình Liên. Nhưng bụi đường thì tha hồ, đủ khổ thứ dân lê lết vệ đường như tôi. 

- Anh mua bánh bò, bánh tiêu? 

Một chị hàng rong đến mời. Tôi lắc đầu. Bỗng chị sững người chăm chú nhìn vào hai bộ từ điển. Chị ngồi thụp xuống, đặt sề bánh bên cạnh, cầm hết cuốn này đến cuốn kia lật lật. Rồi chị hỏi giá cả hai. Ngần ngừ lúc lâu, chị nói:

- Anh có bán... trả góp không? 
- Trời đất ơi! Người ta bán trả góp đủ thứ, chứ sách vở, sách đại hạ giá ai đời bán trả góp? Vả lại, tôi nào biết chị là ai, ở đâu? 
- Tôi cần mua cả hai - chị nói tiếp - xin anh giữ, đừng bán cho người khác. Khi nào góp đủ, tôi sẽ lấy trọn. Anh thông cảm làm ơn giúp tôi. 



Thấy lạ, tôi hỏi chuyện mới vỡ lẽ. Đô Bi chính là thầy cũ của chị hàng rong. Chị Tám (tên chị) bất ngờ thấy có dấu son quen, hiểu ra hoàn cảnh của thầy, bèn nảy ý chuộc lại cho người mình từng thọ ơn giáo dục. Song, bán bánh bò bánh tiêu nào được bao nhiêu, lại còn nuôi con nhỏ, không đủ tiền mua một lần nên chị xin trả góp. 

Tôi cảm động quá, trao ngay hai bộ từ điển cho chị Tám: 
- Chị hãy cầm lấy, kịp làm quà Tết cho thầy. Tôi cũng xin lại đúng số vốn mà thôi, chị à. 
- Nhưng... 
- Đừng ngại, chị trả góp dần sau này cũng được. 
Chị lấy làm mừng rỡ, cuống quít trả tôi một ít tiền. 
- Chao ôi, quý hóa quá! Cảm ơn... cảm ơn... anh nhá! 

Mai lại, chị Tám trả góp tiếp. Chị kể : 
- Thầy Bi thảm lắm... Gần Tết, cô lại ngã bệnh... Thầy nhận sách, mừng mừng tủi tủi tội ghê, anh à!... Thầy cũ trò xưa khóc, khóc mãi! 

Tôi vụt muốn nhảy cỡn lên và thét to: 
“Hỡi ông Victor, ông Lev, ông Dostoievski... ơi! Ông Khái, ông Vũ, ông Ngô... ơi! Có những thứ không bao giờ hạ giá được! Có những người bình thường, vô danh tiểu tốt nhưng có những kiệt tác không hạ giá nổi, đó là ‘Tấm lòng’ ”.

Khuyết danh

26 tháng 1, 2012

the path of my wolf

Những bộ phim về chó thường lấy nhiều nước mắt của người xem. Một thời hẳn mọi người chưa quên phim "Con chó Bim trắng tai đen" đã khiến các bé khóc sướt mướt, hoặc mới đây trên HBO có trình chiếu một bộ phim dựa trên một câu chuyện có thật về một con chó đã chờ người chủ suốt 10 năm tại sân ga mà hàng ngày chủ nó về từ đó, mà không biết rằng người chủ đã chết vì đột quỵ. Con chó sau này đã được dựng tượng tại địa phương nó sống. Nào mời các bạn hãy xem sau đây một phim mới về "chú cẩu". 


----

14 tháng 1, 2012

F35B - chiến đấu cơ linh hoạt nhất thế giới






Giữa tuần qua, chiến đấu cơ F-35B STOVL (gọi tắt là F-35B) - thế hệ máy bay tiêm kích hiện đại và cơ động bậc nhất, được đầu tư sản xuất bởi hãng sản xuất vũ khí Lockheed Martin, chính phủ Mỹ và đồng minh châu Âu, đã có màn trình diễn thử nghiệm các khả năng đặc biệt của nó lần đầu tiên tại một căn cứ không quân bang Maryland. Ba tính năng nổi bật của chiếc chiến đấu cơ này là cất cánh trên đường băng ngắn, đứng yên trên không và hạ cánh theo phương thẳng đứng.

F-35B STOVL là một trong ba mẫu máy bay thuộc dự án phát triển máy bay tiêm kích tấn công kết hợp F-35 Lightning II, được ký kết giữa hãng Lockheed Martin và chính phủ Mỹ, Anh cùng một số nước đồng minh. 

Theo thông cáo của Lockheed Martin thì trong cuộc thử nghiệm ngày 18 tháng 3, phi công Graham Tomlinson đã trình diễn thành công 2 khả năng đặc biệt đó. Chiếc F-35B đã tiến hành cất cánh trên một đường băng ngắn hơn bình thường, sau đó nó giữ nguyên vị trí trên không cách mặt đất khoảng 50 mét để giả lập tình huống khi chiến đấu và kết thúc bằng cách đáp xuống mặt đất theo phương thẳng đứng.

F-35B còn được trang bị thêm một cánh gió trên sống lưng để có thể đón thêm không khí, thổi thẳng vào buồng động cơ, tương tự như một bộ phận làm mát thứ hai nhằm giúp gia tăng hiệu suất hoạt động. Đây cũng là thế hệ máy bay đầu tiên sử dụng kỹ thuật hiển thị thông tin trên mũ phi công, thay thế cho kỹ thuật hiển thị thông tin trên mặt kính máy bay thông dụng hiện nay.

F-35B dự kiến sẽ được quân đội Mỹ, Anh và Italia đưa vào thay thế cho các mẫu chiến đấu cơ đang được sử dụng rộng rãi hiện nay như: Harrier GR7/GR9, AV-8B Harrier II và F/A-18 Hornet... vào khoảng năm 2012.

nguồn: theregister
(sưu tầm)
----

3 tháng 1, 2012

100 năm trong 10 phút


Xin mời xem video dài 10 phút ghi lại các sự kiện đáng nhớ trong 100 năm (1911 -2011).

31 tháng 12, 2011

lắng nghe một năm đã qua với Auld Lang Syne


Happy New Year

*Boney M - LIVE - Les Annés Bonheur

Hơn hai thế kỷ nay cứ đến đêm giao thừa, ca khúc kinh điển được phổ nhạc từ bài thơ của thi hào kiêm nhạc sĩ tài danh Robert Burns lại ngân vang, đánh dấu thời khắc chuyển giao giữa năm cũ và năm mới. Đã từ lâu, Auld Lang Syne ăn sâu vào tiềm thức hàng triệu người qua nhiều thế hệ như là bài hát truyền thống của đêm giao thừa. Vốn là một bài thơ do thi hào Scotland, Robert Burns, viết vào năm 1788, Auld Lang Syne đã được phổ nhạc và trở thành giai điệu âm nhạc phổ biến không chỉ ở các nước nói tiếng Anh mà còn nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ khác trên thế giới. 

Phiên bản của Lea Michele (nhạc phim "New Year's Eve")

Khi tiếng chuông đồng hồ điểm 12 giờ, những câu hát da diết, xúc động với lời ca đầy ý nghĩa vang lên báo hiệu một năm đã trôi qua, năm mới vừa đến. Đó là khoảnh khắc để ta nhìn lại những năm tháng đã qua và hướng tới tương lai trong niềm hân hoan, bồi hồi. 

 "... Should auld acquaintance be forgot 
And never brought to mind? 
Should auld acquaintance be forgot 
And days of auld lang syne? ..." 

 "... Liệu ta có nên quên đi những người bạn cũ năm xưa 
Và không bao giờ nhớ gì nữa? 
Liệu ta có nên quên đi những người bạn xưa ấy 
Và những ngày xưa êm đềm? ... " 

Phiên bản của Kenny G.

Xuất xứ và tầm ảnh hưởng của Auld Lang Syne cho đến nay vẫn còn là một ẩn số. Mang giai điệu và lời ca đặc trưng của Scotland, nhưng khi vang lên, những giai điệu mượt mà, êm đềm của ca khúc này nhanh chóng in sâu vào tâm trí người nghe. Không ai lý giải được điều này, chỉ biết rằng bất kỳ ai cũng đều cảm thấy thân thuộc khi thưởng thức Auld Lang Syne, giống như được gặp lại một người bạn cũ hay chợt nhớ về một kỷ niệm đã qua. 

Không chỉ phổ biến vào dịp giao thừa, bài hát này còn được sử dụng trong rất nhiều dịp như lễ tốt nghiệp, ngày chia tay hay thậm chí là cả đám tang, như một cách để nói lời từ biệt. Auld Lang Syne mang hai sắc thái cảm xúc, vừa là sự vui mừng, hân hoan khi đón nhận một thứ mới mẻ, lại vừa là sự luyến tiếc, ngậm ngùi khi phải xa rời một điều gì đó. 

“… For auld lang syne, my dear 
For auld lang syne 
We’ll take a cup o’ kindness yet 
For auld lang syne…” 

 “… Cho những ngày xưa cũ êm đềm, bạn ơi 
Cho những ngày đã qua 
Chúng ta cùng nâng ly cho những điều tốt lành 
Cho những ngày tươi đẹp đã qua…” 

Phiên bản của Susan Boyle

Một năm trôi qua rất nhanh với bao kỷ niệm vui buồn. Những câu chuyện vẫn còn dang dở… Những dự định còn chưa thực hiện được… Những ký ức còn chưa kịp phai nhòa… Đêm giao thừa, tất cả cùng nâng ly rượu nồng và ôn lại một năm đã qua. Những nụ cười, những giọt nước mắt giờ chỉ còn là quá khứ. Ai nấy đều bùi ngùi, hân hoan đón nhận thời khắc của một năm mới tràn đầy niềm vui, may mắn và những hy vọng. 

Giao thừa luôn là khoảnh khắc thiêng liêng trong năm. Đó là khi những bước chân trên đường phố trở nên hối hả hơn bao giờ hết, là khi đất trời hòa quyện chờ đón một mùa xuân mới, là khi cảm giác bình yên, ấm áp xâm chiếm tâm hồn mỗi con người, là khi những người con xa xứ vội vã trở về nhà hội ngộ bên người thân yêu trong bữa cơm tất niên… 

“... We twa hae run aboot the braes 
And pou’d the gowans fine; 
We’ve wander’d mony a weary foot 
Sin’ auld lang syne. 
We two hae paidled i’ the burn, 
Frae mornin’ sun till dine; 
But seas between us braid hae roar’d Sin’ auld lang syne…” 

“… Chúng ta cùng nhau trèo lên dốc 
Hái những đóa hoa đồng nội 
Chúng ta vui đùa đến khi đôi chân rã rời 
Từ những ngày tháng tươi đẹp cũ 
Chúng ta cùng lội suối với dòng nước trong mát 
Từ sáng sớm cho tới bữa trưa 
Nhưng giữa biển rộng mênh mông, chỉ có đôi ta gào rú 
Đó là những tháng ngày đã qua…” 

* Phiên bản của Robert Burns

Thời gian luôn chuyển động không ngừng, mỗi năm qua đi, những đứa trẻ lớn dần lên, còn người lớn lại già đi. Đó là quy luật tất yếu của tự nhiên. Mọi thứ sẽ trôi qua rất nhanh. Chỉ sau đêm giao thừa, một thời khắc mới lại mở ra trước mắt mỗi người. Đó có thể là sự hồi sinh, sự trưởng thành, sự già nua hay sự úa tàn mà hơn ai hết, chính bản thân ta là người rõ nhất. 

Khi ấy, những kỷ niệm phía sau lưng chỉ còn là những miền ký ức trôi đi. Để đến một lúc nào đó ngồi nhớ lại, ta mới cảm thấy lòng mình rưng rưng, ngậm ngùi. Những câu hát da diết, tình cảm của Auld Lang Syne ngân vang trong đêm giao thừa vừa đưa ta trở về quá khứ êm đềm, tươi đẹp nhưng cũng kéo ta trở lại thực tại, để sẵn sàng đón nhận một hành trình mới trong cuộc đời. Những kỷ niệm luôn là hành trang theo ta đi trong những chuyến đi dài.

“… And here’s a hand, my trusty friend, 
And gie’s a hand o’ thine; 
We’ll take a cup o’ kindness yet 
For auld lang syne…” 

“… Hãy nắm lấy đôi tay này, 
 Người bạn thân mến của tôi 
Chúng ta cùng nâng ly vì những điều tốt lành 
Cho những tháng ngày đã qua…” 

* Khung cảnh đón năm mới ở Quảng trường Thời đại, New York, Mỹ.

Khi còn nhỏ, chúng ta vẫn thường nghĩ “những ngày xa xưa đó” sẽ chẳng bao giờ kết thúc để rồi khi nghe Auld Lang Syne vào đêm giao thừa, ta mới giật mình nhận ra một năm đã lại trôi qua. Những đứa trẻ đều phải trưởng thành, giống như những mầm cây đều sẽ vươn mình lên khỏi mặt đất. Trong nhịp sống hối hả và cuồng quay của vòng đời, giao thừa chính là thời khắc tĩnh lặng để ta nhìn lại “ngày hôm qua” với một chút luyến tiếc, một chút day dứt và một chút hy vọng vào “ngày mai”. 

Tại Việt Nam, phiên bản Auld Lang Syne được nhiều người yêu nhạc nhớ tới là của nhóm Boney M hay của nghệ sĩ saxophone Kenny G. Trên thế giới mỗi năm có tới hàng trăm, hàng nghìn giọng ca thể hiện lại ca khúc này. Tuy nhiên, không ai có thể nhận định được phiên bản nào là hay nhất, đáng nhớ nhất bởi lẽ Auld Lang Syne là bài hát của tất cả mọi người. Đó là ca khúc mà khi vang lên, ai nấy đều cảm thấy rộn ràng, thân quen. Con người, vạn vật và thời gian có thể thay đổi, nhưng thứ cảm xúc ấm áp, đầy hân hoan trong đêm giao thừa với giai điệu bình dị của Auld Lang Syne sẽ mãi là bất tận, dù cho nó có được vang lên ở những nơi như Quảng trường Thời đại ở New York (Mỹ), cây cầu Waterloo của hai nhân vật Roy và Myra trong bộ phim kinh điển La Valse Dans L’Ombre, hay từ chiếc radio cũ kỹ đặt bên lò sưởi của một ngôi nhà cổ ở Hà Nội đi chăng nữa.

 
* Phiên bản trong phim "La Valse Dans L'Ombre" (Waterloo Bridge)
với minh tinh huyền thoại Vivien Leigh và tài tử Robrt Taylor.




Nguyên Minh

24 tháng 12, 2011

lễ giáng sinh - trình diễn trang trí đèn cùng với âm nhạc

Nào chúng ta hãy mở loa thưởng thức âm nhạc Giáng Sinh và xem trình diễn trang trí đèn

 

13 tháng 12, 2011

a simple hello



Hello!
This is so cute, and one that I have not seen before, so enjoy my friends ..

This morning I searched my wallet. 
It was empty. 
Then, I checked my pockets 
I found a few coins 
I then searched my heart and found you. 
Then, I realized how rich I really am... 

Thanks for being my friend and e-mail buddy! 
May you be as rich as I am 
Life isn't about waiting for the storm to pass
It's about learning to dance in the rain. 



from Long Duong
dhl52@yahoo.com